Phát biểu cảm nghĩ về đoạn trích Sau phút chia li

Đánh giá bài viết

Phát biểu cảm nghĩ về đoạn trích Sau phút chia li

Bài làm

Loading...

Chinh phụ ngâm khúc của Đặng Trần Côn , cả khúc ngâm này là rất nhiều cung bậc, nỗi  niềm tâm sự của người chinh phụ khi có chồng ra chiến trường. Dòng cảm xúc chủ yếu xuyên suốt toàn bộ tác phẩm là sự nhớ thương, sầu muộn và ai oán căm ghét chiến tranh.” Sau phút chia ly” là một đoạn trích thuộc văn bản diễn nôm của tác giả Đoàn Thị Điểm, nằm ngay phần đầu của khúc ngâm, nói về tâm trạng của người chinh phụ ngay sau giây phút  chia ly. Bài thơ này khác với bản gốc, ở bản gốc được làm theo thể thơ cổ , còn bài thơ này được làm theo thể song thất lục bát. Thể thơ rất thích hợp cho việc thể hiện chủ đề tư tưởng của tác phẩm .

Chàng thì đi cõi xa mưa

Thiếp thì về buồng cũ chiếu  chăn

Đoái trông theo đã cách ngăn

Tuôn màu mây biếc, trải ngàn mây xanh.

Chốn Hàm Dương chàng còn ngảnh lại

Bến Tiêu Tương thiếp hãy trông sang

Bến Tiêu Tương cách Hàm Dương

Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng

Cùng  trông lại mà cùng chẳng thấy

Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu

Ngàn dâu xanh ngắt một màu

Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?…

Bốn câu thơ đầu tiên đã tái hiện toàn cảnh bức tranh giây phút chia ly. Ta thấy rằng xã hội Việt Nam cuối thế kỉ XVIII, đời sống nhân dân rất khổ cực, phong trào nông dân đã nổi lên khắp mọi nơi. Do vậy, triều đình đã phải triêu bộ binh lính để đi đàn áp những cuộc khởi nghĩa của người nông dân. Người chồng của người chinh phị này là một trong những  muôn vàn người lính đó đã phải lên đường đàn áp những cuộc khởi nghĩa nông dân. Vậy ta có thể thấy rằng sự ra đi của họ không phải sự ra đi vì nước vì dân mà sự ra đi dó có thể gắn liền với sự hi sinh đó là sự hi sinh vô nghĩa, bởi vì đó là những cuộc chiến tranh phi nghĩa. Hai câu thơ đầu với phép đối được sử dụng rất là chỉnh “Chàng thì đi cõi xa mưa/Thiếp thì về buồng cũ chiếu  chăn”. Chỉ với 2 dòng thơ nhưng tác giả đã khắc họa được dự phân cách, chia xa đôi ngả, mỗi người đến một phương trời tách biệt, người chồng thì đi cõi xa mưa gió đối điện với những gian khổ, mất mát. Người vợ trở về đối diện với những kỉ niệm, tháng ngày đợi chờ. Từ đó caauthow lại tiếp tục diễn tả hành động, cảm xúc của nhân vật, hành động của nhân vật được nhắc tới trong câu thơ thứ ba qua cụm từ “ đoái trông” hành động này thể  hiện sự lưu luyến, vấn vương, không muốn và không nỡ chia xa của người vợ mà ta có thể cảm nhận rằng đó không phải chỉ là cảm xúc của riêng người vợ mà trên hết là của cả hai bên là người ra đi và kẻ ở lại. theo quy luật của tri giác “ người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Thiên nhiên trong cảnh chia li như cũng đồng cảm với giây phút chia xa, đầy buồn bã của con người “tuôn màu mây biếc, trải ngàn mây xanh”. Nỗi sầu của con người như hòa vào cảnh vật, ngọn cây, cọng cỏ như chung nỗi niềm ấy. Người ra đi đã khất xa, xa dần. Cố dõi mắt đoái trông thì cũng chỉ thấy mây biếc, núi xanh trải dài vô tận nỗi buồn không thể nguôi ngoai. Phải chia xa đã trở thành một sự thật khắc nghiệt đối với họ. Bởi thế, cảnh vật đã phủ một màu xanh biếc:mây biếc, núi xanh. Hình ảnh mây biếc, núi xanh trập trùng có tính ước lệ thường thấy trong thơ cổ đã được cảm xúc chân thành của người trong cuộc làm cho sống động, tự nhiên.

Loading...

Ta bắt gặp được dòng cảm xúc được dẩy lên cao hơn ở 4 dòng thơ tiếp theo. Sau giây phút tiễn biệt và chia xa thì sự vấn vương và lưu luyến, nỗi nhớ thương dâng trào lên trong lòng người ở lại “Chốn Hàm Dương chàng còn ngảnh lại/Bến Tiêu Tương thiếp hãy trông sang”. Hai dòng thơ này đã diễn tả đầy đủ, sâu sắc và toàn diện nhất sự lưu luyến, buồn bã không muốn chia xa của đôi vợ chồng. Đặc biệt các phụ từ “ còn”, “hãy” đã tô đậm thêm tâm trạng của người đi và kẻ ở lại muốn níu  kéo giây phút chia xa cuối cùng này. Trong khổ thơ có nhắc tới địa danh “Hàm Dương”, “Tiêu Tương” . Đây không phải là những địa danh mang tính xác định cụ thể mà chỉ là những địa danh mang tính tượng trưng. Tượng trưng cho sự xa cách, chia xa về không gian. Ở dòng thơ này dường như khoảng cách về không gian giữa người đi và kẻ ở lại đã được kéo dài, đẩy dài hơn. Nếu như ở những câu thơ trên ta thấy mới chỉ là khảng cách ngăn thôi thì đến câu này đã chuyển thành “ cách mấy trùng”. Trong mấy câu thơ trên tuy có cả con người cùng cảnh vật và tưởng như rất thật nhưng thực ra đây chỉ là bức tranh tâm cảnh. Đồng thời cũng gửi gắm vào đó thái độ bất bình trươc những sự chia li của những đôi lứa yêu nhau đang đàm ấm sum vầy và một câu hỏi sẽ được đặt ra là liệu họ có được vẹn toàn sau bao này binh lửa? thái độ bất bình đấy cũng là tiếng nói gián tiếp len án chiến tranh phi nghĩa của tác giả nới riêng và của nhân dân ta lúc bấy giờ nói chung.

Cùng song song với khoảng cách về không gian giữa hai người càng bị đẩy xa như vậy thì tâm trạng và nỗi niềm của người chinh phụ càng được đẩy lên cao trào và được thề hiện rất rõ ràng trong khổ thơ cuối cùng. Khi đọc những dòng tâm trạng cảm xúc của bốn dong thơ còn lại, ta vẫn bắt gặp những động thái ban đầu đó là người ở lại dõi theo , người ra đi ngoảnh lại để kéo dài thêm cảm giác còn được gần nhau, để in sâu thêm hình ảnh của nhau trong tâm khảm. Nhưng giờ đây sự xã cách đó chẳng thể lấy câu Hàm Dương, bến Tiêu Tương để mà ước tính được nữa cho nên mọi sự cố gắng đều trở nên vô vọng. Bên c ạnh đấy tác giả đã sử dụng  nghệ thuật điệp từ, điệp ngữ, “cùng”, “thấy”, “xanh xanh”, “ngàn dâu”. Những điệp từ này đã trở đi trở lại như vòng xoáy , vòng luẩn quẩn và kết hợp với màu sắc, hình ảnh “ ngàn dâu”, “ xanh xanh” sau đó chuyển thành “ xanh ngắt” làm cho không gian trở nên như bị xóa nhòa. Sắc xanh ngàn dâu làm cho không gian trở nên tê tái hơn giống như nỗi long của người chinh phụ . Ta cảm nhận được rằng những dòng thơ cuối cùng như đã dồn nén những cảm xúc trong lòng người chinh phụ như không thể giấu kín được mà người chinh phụ đã phải cất lên tiếng kêu , tiếng nói để bộc lộ trực tiếp qua tính từ “ sầu”, “Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?…”.Hình thức thì đây là kiểu câu hỏi nhưng ta thấy rằng mục đích hỏi nhưng không  phải để trả lời mà hỏi để khắc sâu nỗi nhớ, sầu muộn cảu cả đôi bên. Người chinh phụ hiểu được rằng trong cuộc chia li này cả hai bên sẽ phải hứng chịu những sự buồn đau, mất mát.

Thông qua mạch tâm trạng của người chinh phụ, ta thấy cảm hứng nhân đạo trọng đoạn trích đã được thể hiện rất sâu sắc đó là tiếng nói phê phán và tố cáo chế độ chiến tranh phi nghĩa là nguyên nhân gây ra cuộc chia li. Đồng thời thể hiện sự đồng cảm về hạnh phúc lứa đôi của người phụ nữ.